SÂU BỆNH HẠI TRÊN CÂY MÍA

Sâu bệnh hại trên cây mía và biện pháp phòng trị

1. Sâu đục thân

Sâu đục thân mía có: Sâu đục thân 4 vạch, Sâu đục thân mình tím, Sâu đục thân mình hồng lớn, Sâu đục thân 5 vạch đầu nâu , Sâu đục thân mình trắng.

Phòng trừ sâu đục thân: rải thuốc Padan 4H.

2. Rệp sáp

Rệp sáp hại mía thường phát sinh 6-7 đợt trong năm. Rệp trưởng thành ít di chuyển. Rệp non thường bám vào đốt mía phía trong bẹ lá để hút chất dinh dưỡng. Rệp tiết ra chất ngọt nên tạo điều kiện cho bệnh muội và nhiều loại kiến ăn mật cùng cộng sinh với rệp và giúp rệp phát tán.

Cách phòng trừ rệp sáp là chọn hom mía sạch rệp, bóc bẹ lá và ngâm nước vôi trước khi trồng. Tránh trồng xen kẽ các vụ mía. Khi thấy rệp phát sinh nhiều thì bóc lá và dùng tay để giết rệp hoặc dùng thuốc Supracid 40ND.

3. Bọ trĩ hại mía

  • Bọ trĩ ẩn nấp bên trong lá ngọn để hút chất dịch. Lá bị hại nặng có màu vàng hoặc đỏ và không xòe ra được rổi khô chết.
    Bọ trĩ phát sinh mạnh vào thời kỳ khô hạn và do khô hạn làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của mía như lá ngọn tỏa ra chậm thì càng lợi cho bọ trĩ gây hại.
  • Phòng trừ: Tăng cường chăm sóc để cây phát triển tốt. Khi nặng có thể dùng thuốc Actara.

4. Bọ hung đen hại gốc mía

  • Bọ hung đen trưởng thành thích hợp với ánh sáng yếu, bò nhiều ít bay. Bọ trưởng thành đẻ trứng vòng quanh gốc mía. Trứng qua 15 ngày có thể nở ra sâu non. Sâu non lột xác 2 lần. Tuổi 1, tuổi 2 khoảng 4-5 ngày; tuổi 3 trên dưới 150 ngày. Suốt đời sâu non sống dưới đất gặm rễ và thân ngầm. Sâu non đẫy sứa hoá nhộng ở trong đất và qua 20 ngày thì hoá trưởng thành. Bọ trưởng thành gặm phá gốc thân mía khá mạnh, ban ngày thường nằm ngay trong các hốc lõm ở gốc thân mía.
  • Bọ hung đen thường xuất hiện rộ phá hại mía trong thời kỳ mía đẻ nhánh, tháng 3-4. Khi mía đã lớn, từ tháng 6 trở đi, ít bị.
  • Biện pháp hoá học: Dùng một trong các loại thuốc hóa học sau: Basudin 10H hoặc Padan 5G.

5. Rệp bông trắng

– Rệp phát sinh và gây hại suốt cả năm, nhưng mạnh nhất vào tháng 9-11. Rệp trưởng thành có cánh sống 7-10 ngày, rệp con 30-40 ngày; rệp trưởng thành không cánh sống được 30-60 ngày, rệp con 15-30 ngày.

– Rệp con mới đẻ tra đã có thể bò đi và tụ tập dọc hai bên lá mía và chích hút chất dịch trong lá mía. Rệp thải ra những giọt mật, tạo điều kiện cho bệnh muội đen phát triển.

– Cây mía bị rệp bông trắng gây hại sinh trưởng kém, độ đường giảm, bị hại nặng trữ đường không còn đáng kể. Hom giống lấy từ ruộng mía bị rệp bông trắng mầm mọc kém và yếu, mía gốc mọc chậm, mất khoáng nhiều.

– Phòng trừ: dùng thuốc Actara.

6. Bệnh gỉ sắt

– Bệnh hại tập trung trên lá bánh tẻ và lá già. Trên lá: bệnh bắt đầu phát sinh từ ngoài và phát triển dần vào trong.

– Bệnh phát sinh ở cả 2 mặt lá, đầu tiên là những đốm dài nhỏ màu vàng trong, về sau vết bệnh có dạng hình trụ, màu nâu quýt. Các đốm nhỏ liên kết với nhau thành đám lớn và làm cho lá chết khô sớm. Mặt lá bị bệnh sờ tay thấy gồ ghề và dính bột màu vàng.

– Phòng trừ: Dùng thuốc Tilt.

7. Bệnh đốm vòng

– Bệnh hại trên lá già ở cuối thời kỳ sinh trưởng của cây mía. Bệnh xuất hiện đầu tiên là những chấm hình thoi hoặc hình bầu dục.

– Kích thước từ 2-3 đến 5-10mm; mầu xanh thẫm, màu nâu sau chuyển sang màu đỏ nâu, bệnh phát triển mạnh có viền vàng bao quanh. Vết bệnh phân bố không quy tắc, phát triển dần và hợp thành từng đám lớn, giữa vết bệnh khô chết và có nhiều chấm đen. Bệnh rất phổ biến nhưng chỉ hại lá già.

8. Bệnh thối đỏ thân

– Bệnh hại chủ yếu ở mía cây đã lớn. Triệu chứng điển hình là khi chẻ dọc thân cây mía thì có các vệt đỏ nâu ở các mạch dẫn và có mùi rượu.

– Số lượng không đều, có khi liên tiếp mấy đốt hình dáng giống như con thoi, về sau vệt đỏ phát triển mạnh, cả đốt biết thành màu đỏ thẫm. Vết bệnh phân tán dọc theo cây và sản sinh những bó sợi nấm màu đen, khi bị nặng nhìn bên ngoài thấy dóng mía màu đỏ vàng và hơi lõm xuống. Giữa các đốm bệnh đỏ có các đốm ngang màu trắng.

– Phòng trừ:

  • Trồng giống kháng bệnh.
  • Trừ sâu đục thân mía là biện pháp hữu hiệu.
  • Dùng thuốc Score 250ND.

9. Bệnh than (đen đốt)

– Triệu chứng đặc trưng của bệnh là lá đọt cây mía biến dạng thành dạng roi cong xuống, có trường hợp dài tới hàng mét.

– Biểu hiện đầu tiên là bên ngoài phủ 1 lớp màng mỏng màu trắng, sau đó chuyển sang màu đen do được phủ bằng vô vàn bào tử dạng bột. Cây mía bị bệnh hoàn toàn mất khả năng tạo dóng và ở gốc đẻ nhiều nhánh nhỏ, song mầm nhánh hầu hết bị bệnh.

– Phòng trừ:

  • Trồng giống kháng bênh.
  • Kịp thời nhổ bỏ và tiêu huỷ cây mía bị bệnh; ruộng mía bị hại nặng không nên để lưu gốc. Ruộng mía bị bệnh nặng nên luân canh với cây họ đậu 1-2 năm. Không lấy hom giống ở ruộng mía bị bệnh nặng.
  • Dùng thuốc Tilt 250ND pha với nước nồng độ 0,2%, nhúng hom mía 5 phút trước khi trồng.

10. Thân chồi đâm ngọn

– Lá mía bệnh có sọc màu vàng, đôi khi có sọc màu tím. Ở ngọn thân có nhiều chồi mầm mọc ra thành cánh rồi héo khô và lá ở ngọn sẽ chết dần. Trong thân có nhiều vết màu đỏ tươi.

Bệnh thân chồi đâm ngọn Xanthomonas albilineans Dowson

– Do vi khuẩn Xanthomonas albilineans Dowson

– Bệnh được lan truyền trong điều kiện thiên nhiên khi vết gãy giữa các lá gây ra vết thương, qua đó tác nhân gây bệnh có thể đi vào lá. Sự phân tán bệnh là do hom giống, mưa gió và các dụng cụ chặt.

– Phòng trừ:

+ Không để vườn mía bị ngập úng.

+ Ngâm hom mía vào nước nóng 50°C trong 2-3 giờ hoặc 52°C trong nửa giờ hoặc trong hơi nóng 54°C trong 8 giờ trước khi đem ra trồng. Dùng hơi nóng sẽ ít gây hại cho hom mía non hơn là dùng nước nóng (do dễ bị hư chồi mầm).

+ Dùng giống kháng bệnh.

Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ zalo 0944099345 (Mr. Thông) để được tư vấn miễn phí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

TƯ VẤN ZALO
GỌI MUA HÀNG